Cuối năm, khi những cánh đào khoe sắc thắm, khắp phố phường nhộn nhịp đón xuân, chúng tôi lại có chuyến công tác tại đất mỏ Quảng Ninh. Nơi đây, không chỉ có mỏ mà còn có đảo, và đảo xa nhất có lẽ là đảo Trần, nơi ấy có Đồn 6 của Biên phòng tỉnh tọa lạc.
Con tàu mở hết tốc lực, lướt như bay trên sóng hưởng về đảo xa. Trong câu chuyện với người lái tàu, chúng tôi được biết, đảo Trần có nhiều cách gọi. Tên chuẩn nhất của đảo là Trằn (vì có trằn lớn, trằn bé, trằn mẹ, trằn con...) nhưng qua cách phát âm của dân nên những người tiên phong đặt tên cho đảo đã gọi là đảo Trần.
Anh lái tàu vui tính còn cho chúng tôi biết thêm, hiện tại ở đây ngoài lính biên phòng còn có lính phòng không và một đội trông nom ngọn hải đăng ở núi cao nhất, đêm đêm thắp lên một ngọn đèn để định hướng cho tàu bè.
|
|
Ra đảo Trần. |
Muốn lên đảo cũng gian nan lắm! Thuyền, bè chỉ cặp mạn được ở phía bờ Bắc và
Đến đảo Trần rồi mới thấy, ai có tư tưởng cứ có tiền là sống, có tiền là có mọi thứ thì họ sẽ gục ngã ngay khi bước chân vào cầu cảng. Ở đây chưa có điện, điện thoại chỉ có máy bàn còn hai thứ để quyết định cơ bản cho sự tồn tại của con người là đất và nước thì đều là loại xa xỉ cả. Đất chỉ đủ để ở, không đất trồng trọt, nếu có thì cũng chẳng trồng được thứ hoa màu gì. Nước thì chủ yếu chờ nước trời, trời mưa, xây bể tích lại mới có dùng, vậy nên nước ngọt ở đây chỉ đủ cho sinh hoạt hết sức tiết kiệm theo kiểu lính.
Nửa ngày lang thang ở chỗ đất phẳng nhỏ nhoi nơi Đồn đóng, tiếp xúc với bộ đội, tôi chợt rút ra một điều: Mỗi người lính biên phòng sống ở đây đều phải tạo dựng được trong họ 3 con người thì mới "đủ điều kiện" để ở lại với đảo. Nghĩa là họ vừa là bộ đội, lại phải vừa là ngư dân, lâm dân.
Cuộc sống người lính ở đây thiếu thốn đủ bề. Ngoài lương thực, thực phẩm, tất cả mọi thứ đều là hàng khô thì để đảm bảo một cuộc sống họ phải học, thích nghi và làm quen với nghề biển và nghề rừng. Hết mỗi ca trực, kíp trực, thay bộ quân phục, mặc quần áo dân sự vào là họ chia nhau mỗi người một việc. Người lên rừng lấy củi, nhặt quả bứa, quả dọc đem về phơi khô nấu canh chua ăn dần hay làm bẫy để đánh bắt chim chóc về cải thiện. Người xuống biển thì lại tay lưới, tay mủng như ai để đánh bắt cá tôm đem về cải thiện.
Phải nói hai cái nghề này lính đảo Trần làm tương đối ổn. Bằng chứng của việc này đã được khẳng định qua những bữa ăn được dọn ra. Ngoài "chiến lợi phẩm" từ biển với ê hề tôm, ghẹ, ốc biển do anh em đánh bắt thì chúng tôi còn được thưởng thức những món anh em tự chế ngon không kém các đầu bếp có hạng. Đó là các món nộm rau rừng.
Ở đảo Trần chuyện gây cho chúng tôi chú ý nhất đó là chuyện nuôi chó. Chó ở đây lúc nào cũng phải duy trì ở mức 20 con trở lên, lúc cao điểm lên tới trên 30 con.
Mùa xuân gửi lại đất liền
Năm nay, có lẽ là mùa xuân đến sớm nhất ở đảo. Bởi những thứ thường thấy trong dịp Tết đã xuất hiện sớm hơn mọi năm. Cả đảo nhộn nhịp tiếng nói tiếng cười, không gian đã thơm nồng mùi bánh chưng gói sớm.
|
|
Cập bến. |
Những ngày này quân số ở đảo bao giờ cũng đảm bảo 100% anh em trực tết, họ đành gửi lại nhớ nhung của mình nơi đất liền để đêm ngày bám trụ nơi đầu sóng ngọn gió nắm chắc tay súng để bảo vệ đất mẹ thân yêu.
Ngoài mấy cậu lính nghĩa vụ trẻ măng chưa vợ con thì hầu hết cán bộ chiến sỹ ở đây đều "gửi" vợ con trong đất liền, nhờ ông bà nội ngoại chăm chút đã thành quen. Họ chẳng mấy khi được đoàn tụ bên vợ con vào những ngày tết. Ngay cả ngày thường thời gian bên vợ con gia đình cũng ngắn ngủi lắm. Mỗi năm chỉ có một kỳ nghỉ phép, được một tuần, về nhà có khi "hương lửa đang nồng" đã phải vội vã chia tay vì nhiệm vụ cao cả của người lình đảo.
Người ta bảo lấy chồng bộ đội đảo Trần là phải chấp nhận xa cách quả không sai.
Ở đảo Trần mọi người "bình chọn" hai người được đưa lên vị trí "quán quân" vì thời gian xa vợ con. Người thứ nhất là đồn trưởng Tô Hồng Tiến, tính đến thời gian này anh đã đằng đẵng 22 mùa xuân ở đảo, hết đảo Vừng, Tuần Châu, Vĩnh Thực, Thanh Lân bây giờ là đảo Trần. Đứa con lớn của anh năm nay đã 22 tuổi, vậy mà thời gian sống bên con chẳng được là bao.
Những lúc nghỉ phép về nhà anh cứ đùa các con rằng ở nhà này phải thực hiện chế độ mẫu hệ. Mẹ là bố còn bố chỉ là mẹ thôi. Thế mới thấy sự hy sinh của các anh và gia đình nhất là người vợ.
Người thứ hai là Trung uý Trần Văn Tài. Anh Tài vốn quê gốc
Theo sự điều chuyển, anh ra đảo Trần, thế là sự thương nhớ cách xa cả nghìn cây số. Thông thường, vào kỳ nghỉ phép anh tất bật vượt sóng về thăm vợ con, tất cả mọi cái đều thuận thì cũng phải mấy 7 ngày sau anh mới gặp được.
Khi ra về, tôi nhớ nhất câu chuyện mà vợ của một người lính gửi thư cho chồng đang công tác ở đảo Trần mà tết này không về được trong đó có một câu hết sức cảm động tôi cũng xin dùng nó để kết thúc cho bài viết này: Anh hãy yên tâm cầm chắc tay súng giữ gìn biên cương nơi phiên dậu Tổ quốc, sau lưng các anh là vợ con anh và tất cả mọi người luôn hướng về anh!
Bùi Khánh Linh